Kinh nghiệm khai thác sử dụng nguồn gen cây trồng của cộng đồng các dân tộc khu vực lòng hồ thuỷ điện Sơn La và các vùng phụ cận

Kinh nghiệm khai thác sử dụng nguồn gen cây trồng của cộng đồng các dân tộc khu vực lòng hồ thuỷ điện Sơn La và các vùng phụ cận

Cộng đồng các dân tộc thuộc khu vực thuỷ điện Sơn La và các vùng phụ cận có nhiều tri thức, kinh nghiệm về khai thác sử dụng và chế biến nguồn gen cây trồng. Ba dân tộc Thái, H’Mông và Dao là những minh chứng rất điển hình về chế biến và khai thác sử dụng rất hiệu quả nguồn tài nguyên cây trồng phục vụ sinh kế và bảo vệ sức khỏe. Những tri thức bản địa và kinh nghiệm cổ truyền này đã được hình thành, duy trì, phát triển và truyền khẩu qua nhiều thế hệ, gắn chặt với nhu cầu, phong tục, tập quán của từng dân tộc cụ thể, có sự tương tác và thích ứng linh hoạt với từng vùng, từng điều kiện sinh thái khác nhau. Đó chính là cơ sở quan trọng cho sự phát triển bền vững của cộng đồng và xoá đói giảm nghèo.

Tin tức, 25/06/2013 03:14, 0 Comment

Kinh nghiệm khai thác sử dụng nguồn gen cây trồng của cộng đồng các dân tộc khu vực lòng hồ thuỷ điện Sơn La và các vùng phụ cận

                                                          Nguyễn Đức Chinh, Vũ Linh Chi, Nguyễn Thị Ngọc Huệ

Trung tâm Tài nguyên thực vật

Summary 

      The indigenous knowledge of agriculture plays an important role in the conservation of local crop diversity. Therefore, survey, collection and doccumentation of the traditional knowledge on exploitation and utilization of  local crop germplasm is one of the first priority in plant genetic resources conservation in general and crop germplasm in the area of Son La hydroelectric and surrounding in particular.

      The study results indicated that Thai, H’Mong, Dao minority’ indigenous knowledge in the study areas are abundant and distinguished. This knowledge deeply influences on local genetic resources diversity, for example, Thai people eat sticky rice in different way so until now they cultivate a large of sticky rice varieties (about 277 accessions varieties were collected from this site). Many herbal remedies have been also used as precious medicine in ethnic communities. However, together with precious plant genetic resources, the indigenous knowledge of agriculture is being lost. Thus, need to continue researching it more.

Key word: Indigenous knowledge, utilization, crop genetic resources, SonLa hydroelectric                                              1. Đặt vấn đề

Các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai và Yên Bái là các địa phương nằm trong khu vực xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La, thuộc Tây Bắc Việt Nam, nơi có sự đa dạng tài nguyên cây trồng rất cao, cũng là nơi sinh sống của rất nhiều dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Mỗi dân tộc thường cư trú trong một môi trường sinh thái nhất định, như các dân tộc Thái, Lào, Lự... thường sống ở vùng núi thấp, còn dân tộc H’Mông, Dao, Hà Nhì,... thường sống ở vùng núi cao. Do vậy, mỗi dân tộc có những giống cây trồng để  phù hợp với điều kiện tự nhiên và phong tục tập quán, tín ngưỡng của dân tộc đó, tạo nên kho tri thức về sử dụng các nguồn gen cây trồng rất đa dạng và phong phú.

Theo nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã khẳng định, giá trị của nguồn gen cây trồng địa phương gồm hai phần: phần vật thể và phần phi vật thể, phần vật thể chính là bản thân giá trị của nguồn gen và phần phi vật thể là những kiến thức bản địa về khai thác và sử dụng nguồn gen đó. Như vậy để bảo tồn hiệu quả quỹ gen cây trồng phải  đồng thời bảo tồn hai phần giá trị của nó. Do đó việc điều tra, thu thập và tư liệu hoá các kinh nghiệm truyền thống, các kiến thức bản địa liên quan đến nguồn gen cây trồng là vấn đề rất quan trọng, mang tính thực tiễn và cấp bách. Trong 3 năm từ 2007 đến 2009, song song với việc tiến hành điều tra thu thập nguồn gen cây trồng tại khu vực thủy điện Sơn La và các vùng phụ cận, những kiến thức bản địa liên quan đến việc khai thác sử dụng các nguồn gen này cũng được thu thập và bước đầu tư liệu hoá, nhằm góp phần bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc, cũng như bảo tồn đa dạng quỹ gen cây trồng.

2. Phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là toàn bộ những thông tin liên quan đến các loài giống cây trồng đã được thu thập, được cộng đồng các dân tộc khu vực lòng hồ thuỷ điện Sơn La và các vùng phụ cận trồng trọt, thu hái để phục vụ cho sinh kế và phát triển cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu: trong quá trình điều tra, thu thập đã sử dụng các phương pháp sau:
       - Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA) với sự kết hợp các kỹ thuật phỏng vấn mở trực tiếp với người nông dân có nguồn gen thu thập và phỏng vấn tái diễn.

- Tập hợp các thông tin được ghi chép trực tiếp, phiếu điều tra, tài liệu sẳn có, xử lí số liệu bằng phần mềm excel.

- Phân tích, kiểm tra thông tin và viết báo cáo.

3. Kết quả và thảo luận

Qua ba năm 2007-2009, đã thu thập được 4423 nguồn gen thuộc 120 loài và loài phụ thuộc 86 chi của 31 họ thực vật, cùng với những kiến thức bản địa về cách thức sử dụng những nguồn gen đó tại 5 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai và Yên Bái từ 20 dân tộc khác nhau. Trong đó từ dân tộc Thái thu được 1760 (39,8%) nguồn gen, dân tộc H’Mông thu được 1553 (35,1%) nguồn gen và dân tộc Dao là 436 (9,86%)  nguồn gen. Đây cũng là ba dân tộc có kinh nghiệm khai thác sử dụng nguồn gen cây trồng phong phú nhất. Trong giới hạn của bài viết này chúng tôi xin giới thiệu kinh nghiệm khai thác sử dụng nguồn gen của ba dân tộc Thái, H’Mông và Dao.

3.1. Kinh nghiệm khai thác  sử dụng nguồn gen cây trồng của dân tộc Thái

Dân tộc Thái có mặt ở Tây Bắc Việt Nam từ rất sớm, sống tập trung ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Yên Bái và Hoà Bình, có hai nhóm địa phương Thái đen và Thái trắng. Người Thái có kỹ thuật thâm canh lúa nước khá cao, ngoài ra cũng trồng lúa cạn và các loại hoa màu khác trên nương để phục vụ nhu cầu đời sống. Cách thức chế biến, sử dụng các loại cây trồng này cũng rất đa dạng, như được thể hiện ở bảng 1.

 

 

 

 

Bảng 1. Một số kinh nghiệm sử dụng nguồn gen cây trồng của dân tộc Thái

TT

Phương thức sử

dụng

Bộ phận sử dụng và cách làm

Nguồn gen liên quan đã thu thập

Loài cây

Số lượng

Giống điển hình

3.1.1

Nhóm cây lương thực, thực phẩm

 

Làm bánh, thổi xôi

Lấy hạt gạo nểp làm bánh, thổi xôi, dùng vào các ngày lễ hội và ngày tết

Nếp ruộng, Nếp nương

210

Tan nương,

Dể nông,

Khẩu pom pộ

 

Chữa đau bụng

Hạt gạo dùng để nấu rượu, ngâm rượu, nấu cháo, uống chữa bệnh đau bụng đi ngoài

Nếp cẩm

20

Khẩu lếch

 

Đa dụng

Lấy thân cây sau khi đã trổ cờ ăn sống  để giải khát (giống mía). Lấy hạt dùng trong chăn nuôi, hoặc nổ như bỏng ngô

Cao lương

32

Má manh,

Ỏi manh,

Co khẩu nổ

 

Làm bánh, Nấu xôi

-Hạt được xay thành bột để làm bánh

- Lấy hạt, làm sạch, ngâm đồ xôi, ăn ngon

 

7

Plắc nhạ hút, Khẩu phảng

3.1.2

Nhóm cây làm rau, gia vị

 

Đa dụng

Quả non dùng để luộc, xào, quả già ăn tươi, lá non dùng để xào.

Dưa trời

22

Má thiệp,

Má hói

 

Đa dụng

Quả non dùng để xào, nấu canh, luộc ăn, hạt chín dùng đồ xôi, làm nhân bánh chưng

Đậu nho nhe

54

Má thúa nho nhe

 

Dã rượu

Lấy quả xanh nấu canh để dã rượu

Cà đắng

3

Mắc cạnh khôm

3.1.3

Nhóm  cây làm thuốc

 

Chữa ho

Cũ dùng làm thuốc chữa ho, làm gia vị

Gừng

41

Khinh

 

Chữa viêm họng

Dùng dọc lá vắt lấy nước, ngậm chữa viêm họng

Ráy

2

Phúc chể

 

Trị mụn

Dùng thân, lá nướng lên đắp vào chỗ bị mụn

Cây chữa mụn nhọt

1

Co hán hạn

 

Làm thuốc

Củ ngâm rượu xoa bóp chân, hầm với thịt gà, cho phụ nữ mới sinh.

Tam thất trắng

1

Tam thất trắng

 

Làm thuốc

Dùng củ sao vàng, ngâm với rượu để uống chữa đau gối, đau tay lưng.

Hành đỏ

1

Hòm bố đèng

 

Chữa sỏi thận

Dùng ngọn luộc, làm nộm, nấu canh, làm thuốc chữa bênh sỏi thận

Rau hôi

1

Co phắc nàm mìn

3.1.4

Nhóm cây sử dụng làm mục đích khác

 

Nhuộm xôi

Lấy cây rửa sạch, sắc, gạn lấy nước, để nguội, ngâm gạo cho xôi màu tím.

Cây nhuộm xôi

3

Co kháu cắm

 

Nhuộm vải

Tuốt lá, ngậm lá, vò, ngâm 2-3 ngày, cho 1 lượng  nước vừa phải, sau đó cho vải vào nhuộm 2-3 lượt

Cây nhuộm vải đen

3

Co hộp,

Co khảu căm

3.2. Kinh nghiệm sử dụng nguồn gen cây trồng của dân tộc H’Mông

            Dân tộc H’Mông là một trong những thành viên quan trọng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số của Việt Nam và sớm có mặt ở các vùng núi Bắc bộ của nước ta. Người Mông làm  nương, rẫy và ruộng bậc thang trên các vùng núi cao, có bộ giống cây trồng và kinh nghiệm sử dụng, chế biến những nguồn gen này rất phong phú. Kết quả được ghi nhận ở bảng 2.

Bảng 2. Một số kinh nghiệm sử dụng nguồn gen cây trồng của người Mông

TT

Phương thức sử

dụng

Bộ phận sử dụng và cách làm

Một số nguồn gen liên quan đã thu thập

 

Loài cây

Số lượng

Giống điển hình

 

3.2.1

Nhóm cây lương thực, thực phẩm

 

 

Làm bánh, nấu xôi

Hạt gạo nếp dùng làm bánh chưng, bánh dày, nấu rượu, thổi xôi, gắn liền với những ngày lễ, tết, ma chay, cưới hỏi

Lúa nếp

128

Plầu triệu,

Blề blào chớ,

Blề blẩu cày,

 

 

Rượu cẩm

Lấy gạo nấu cơm để nguội, trộn với men lá rừng, cho vào chum ủ cùng với trứng gà, sau 3 tháng trứng ăn được và rượu uống được.

Nếp cẩm

37

Blề blẩu xùa, Lẩu sán

 

 

 

Rượu ngô

Dùng hạt ngô luộc đến nhừ, đổ ra để nguội, trộn men rồi ủ (men gồm lá + men Trung Quốc).Thời gian ủ 1 tuần, nấu nh­ư r­ượu gạo

Ngô tẻ

79

Po cự blẩu,

Po c­ự đằng

 

 

Bánh ngô

Lấy bắp ngô bánh tẻ, tẻ hạt, xay ngô sống, dùng lá bi gói, luộc

Ngô nếp

75

Po cừ plậu đơ,

Po cự plẩu đằng

 

 

Làm bánh, nấu rượu

Lấy hạt, nghiền nhỏ làm bánh hoặc nấu rượu

Mạch 3 góc

4

Chì á,

Chì cáng

 

 

Đa dụng

Thân cây sau khi ra hoa dùng ăn tươi hoặc nấu lên thành đư­ờng đến tết làm nước chấm bánh. Hạt dùng để nấu rượu hoặc dùng chăn nuôi. Bông sau khi tuốt hạt bện làm chuổi quét nhà.

Cao

lương

 

49

Kchua plét,

Quản chỉa,

Pạng dua,

Chua.

 

 

Làm bánh, nấu rượu

Lấy hạt trộn với gạo nếp nghiền bột làm bánh rán, hoặc dùng để nấu rượu.

46

 

 

Làm tậu xị

Dùng hạt rang chín, đổ n­ước luộc đến khi hạt đậu nở, chắt bỏ nư­ớc, đổ đậu vào bao, ủ vào rơm đển nóng (khoảng 2-3 ngày) đập gừng trộn với muối cho vào thùng khoảng 2-3 ngày là ăn được.

Đậu

tư­ơng

36

Tẩu pấu

 

 

Nấu rượu

Lấy củ luộc chín, để nguội, thái lát, trộn với men, nấu thành rư­ợu

Dong giềng

15

Cỏ dà

 

 

Chế biến khoai nưa

Lấy củ gọt vỏ, đun n­ước sôi, thả vào có bọt hớt bọt đi, đun khi chín mềm thì ăn đ­ược, hoặc cắt nhỏ, đun lẫn với nước tro đến chín, rữa sạch, thái lát, xào với mỡ.

Khoai nưa

1

Neo Dử,

Cau tậu phú

 

 

Chế biến khoai ngứa

Lấy củ gọt vỏ, nạo, ngâm n­ước vôi, đun chắt n­ước đi, đổ n­ước vào đun bình thường, tr­ước khi ăn rửa nư­ớc lạnh

Khoai ngứa

1

Cò Tẩu phứ

 

 

Chế biến khoai thờ ơ

Nạo củ, trộn thêm tro vào nấu để tránh ngứa, sau đó đun để nguôi thanh miếng cắt ra, trộn với gừng, gia vị xào lên.

Khoai thờ ơ

1

Cao cứ thờ

 

 

Sa nhân muối

Lấy củ màu đỏ, bằng ngón tay ngâm muối 15 ngày (giống muối cà), muối lẫn với măng và lá tía tô.

Sa nhân

1

Cố giàng hồ

 

3.2.2

Nhóm  cây làm thuốc

 

 

Chữa sốt cao

Hạt ngâm nư­ớc nóng chữa bệnh sốt cao

Cao lương đen

5

Cuốn día chua

 

 

Chữa sâu răng

Dùng hạt rang vàng cho ít mỡ vào lấy bát úp vào, cho bốc hơi vào miệng

Cà dại

2

Pủ đằng

 

 

Chữa đau dạ dày

Lấy củ trên thân chữa bệnh dạ dầy, hoặc ăn tươi khi uống rượu mà bị đau bụng.

Mùng tơi

3

So phắc ke

 

 

Chữa đau dạ dày

Lấy củ, thát lát, sao lên, nghiền nhỏ, trộn với mật ong ăn chữa đau dạ dày. Làm gia vị

Nghệ đen

1

Khá đăng lu

 

 

Chữa cảm  cúm

Thân lá đun nư­ớc tắm, xông hơi để chữa cảm cúm.

Hương  nhu

1

Ko Kăm khớ

 

 

Chữa đau đầu, cảm cúm, ho

Lấy củ đập nát củ, cho vào khăn buộc vào đầu chữa đau đầu. Buộc 1-2 tiếng vào cổ tay, cổ chân để chữa cảm cúm. Nướng củ, thái lát, chườm vào cổ khi còn nóng để chữa ho. Làm gia vị

Gừng

42

Khía, khinh

 

 

Chữa trướng bụng

Lấy hạt ăn sống  để chữa trướng bụng đầy hơi.

Cây lanh

3

Mằng

 

3.2.3

Nhóm cây làm rau, gia vị

 

 

Làm gia vị

Củ dùng làm gia vị, lá thái nhỏ, rắc lên thịt gà, hoặc cho vào nước chấm

Cây gia vị

1

Pở cay

 

 

 

Làm gia vị

Làm gia vị ăn cùng với thịt gà và dùng để nướng cá. Cho vào n­ước suýt gà nấu làm canh

Cây gia vị

1

Pìa ca

 

3.2.4

Nhóm cây sử dụng làm mục đích khác

 

 

Nhuộm màu xôi

Dùng lá, thân đun sôi, lấy nước ngâm gạo khoảng 2 tiếng, vớt gạo, đồ xôi.

Cây nhuộm xôi

1

Sủa phong máu blẩu

 

Nhuộm vải

Lấy lá ngâm vào n­ước 1 đêm 1 ngày, đảo nhiều lần, để lắng, chắt nư­ớc, lọc lấy cặn, pha 1% rượu, cho vải vào 1giờ, phơi khô rồi lại nhúng tiếp. Làm nhiều lần đến khi màu chàm sẫm là đ­ược.

Cây nhuộm vải màu tràm

1

Gàng

 

 

 

 

Dùng dệt vải

Tháng 7 thu cây về, t­ước vỏ, cuộn lại, đem nấu từ tối tới sáng, khi đun cho thêm tro bếp, sau đó đem nhuộm  đen, dệt thành vải.

Cây lanh

3

Nông mà,

Mảng

 

Dùng dệt vải

Lấy vỏ thân cây phơi khô, tước sợi, se chỉ dùng dệt vải, may quần áo cho ng­ười chết.

Cây lấy sợi

1

Mặng

                 

 

3.3. Kinh nghiệm sử dụng nguồn gen cây trồng của dân tộc Dao             

            Người Dao di cư đến Việt Nam vào khoảng thế kỹ XII, sống phân tán ở hầu hết các tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ. Người Dao canh tác trên nương rẫy, một số nơi còn trồng lúa nước. Kinh nghiệm sử dụng nguồn gen cây trồng của bà con dân tộc Dao khá phong phú và kết quả được thể hiện ở bảng 3.

 

 

 

Bảng 3. Một số kinh nghiệm sử dụng nguồn gen cây lương thực, thực phẩm của dân tộc Dao

TT

Phương thức sử

dụng

Bộ phận sử dụng và cách làm

Một số nguồn gen liên quan đã thu thập

Loài cây

Số lượng

Giống điển hình

3.3.1

Nhóm cây lương thực, thực phẩm

 

Rượu sán lùng

Thóc trộn cao lương được đổ vào nồi luộc chín, sau đó vớt ra rải đều trên mặt lá chuối tươi đến khi nguội, trộn đều với men cho vào chum ủ kín không đổ thêm nước. Men lá là loại men được đồng bào tổng hợp từ nhiều loại cây, vị thuốc như: Hạt thảo quả, rễ cây ớt rừng, củ riềng, … người dân dùng một chiếc sàng có lỗ nhỏ đặt trên mặt nồi hoặc chảo đựng nước. Sau đó đổ đầy nguyên liệu nấu rượu lên kín mặt sàng, không để nguyên liệu lọt xuống dưới nồi, đặt hông hoặc chõ nấu trên mặt nồi  bao kín mặt sàng nguyên liệu rồi nấu cách thuỷ.

Lúa tẻ mộ,

cao lương đỏ

 

56;8

Plầu cà chắt,

Quý giàng si

 

 

 

Thổi xôi, làm bánh

Hạt gạo nếp dùng thổi xôi, làm bánh chưng, bánh dày, nẩu rượu.

Lúa nếp

50

Blẩu kiểu,

Bèo chỏm,

Bèo pa ây

 

Rượu cẩm

Nấu rượu làm thuốc bổ

Nếp cẩm

12

Bèo cú, Bèo u cụ

 

Rượu cao lương

Lấy hạt luộc chín, ủ men 1 tuần, nấu thành rượu, hạt màu đỏ. Phần bông sau khi tách hạt bện làm chổi quét nhà

Cao lương

13

Cù làng

3.3.2

Nhóm  cây làm thuốc

 

Giải độc

Dùng hạt giải độc khi bị ngộ độc thức ăn, đặc biệt vừng càng để lâu năm có tác dụng càng cao

Vừng đen

3

Phà chá

3.3.3

Nhóm cây sử dụng làm mục đích khác

 

Nhuộm xôi

Lá và thân, luộc lấy nước ngâm gạo  để  nấu xôi

Cây nhuộm xôi

1

Nắng làm

 

            Kết quả trên cho thấy sự đa dạng và tính riêng biệt trong phương thức chế biến, khai thác sử dụng nguồn gen cây trồng của các dân tộc Tây Bắc. Tuy nhiên cũng như nhiều dân tộc khác sống trên đất việt, ba cộng đồng dân tộc này đều sử dụng lúa nếp để thổi xôi, làm bánh  trong các ngày lễ, tết, ma chay, cưới hỏi như một biểu tượng của lòng thành kính của người trần tục đối với các bậc thần linh. Sử dụng cây nhuộm màu xôi cũng là một nét độc đáo của các dân tộc này. Đối với người Thái, đồ nếp còn được sử dụng phổ biến trong các bữa cơm hàng ngày nên bà con duy trì một bộ giống lúa nếp rất lớn (230 nguồn gen lúa nếp). Rượu là thức uống không thể thiếu được đối với đồng bào người Mông và người Dao, Người Mông thì nổi tiếng với thương hiệu rượu ngô Bắc Hà, còn người Dao thì thương hiệu rượu Sán lùng cũng đã vang danh từ lâu. Nguyên liệu nấu rượu của hai dân tộc này cũng rất phong phú, đặc biệt là người Mông, bà con dùng rất nhiều loại nguyên liệu khác nhau như loại lúa, ngô, dong riềng, cao lương, kê, mạch ba góc, ý dĩ để nấu rượu. Những phương thuốc dân gian chế từ nhiều loại cây sẵn có, để chữa trị nhiều loại bệnh thông thường được đồng bào sử dụng rộng rải trong đời sống hàng ngày theo những cách riêng của mỗi dân tộc.

4. Kết luận và đề nghị

            Cộng đồng các dân tộc thuộc khu vực thuỷ điện Sơn La và các vùng phụ cận có nhiều tri thức, kinh nghiệm về khai thác sử dụng và chế biến nguồn gen cây trồng. Ba dân tộc Thái, H’Mông và Dao là những minh chứng rất điển hình về chế biến và khai thác sử dụng rất hiệu quả nguồn tài nguyên cây trồng phục vụ sinh kế và bảo vệ sức khỏe. Những tri thức bản địa và kinh nghiệm cổ truyền này đã được hình thành, duy trì, phát triển và truyền khẩu qua nhiều thế hệ, gắn chặt với nhu cầu, phong tục, tập quán của từng dân tộc cụ thể, có sự tương tác và thích ứng linh hoạt với từng vùng, từng điều kiện sinh thái khác nhau. Đó chính là cơ sở quan trọng cho sự phát triển bền vững của cộng đồng và xoá đói giảm nghèo.

            Những năm gần đây, do chịu nhiều tác động của quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt là hệ quả ảnh hưởng từ việc xây dựng thuỷ điện Sơn La mà hệ thống tri thức bản địa liên quan với đa dạng sinh học đang dần dần bị mai một, trong đó có tri thức, kinh nghiệm sử dụng và chế biến nguồn gen cây trồng. Vì vậy để hạn chế sự mất mát này, đề nghị trong thời gian tới cần quan tâm hơn nữa tới việc điều tra, thu thập và tư liệu hoá hệ thống tri thức quan trọng này, góp phần bảo tồn được bản sắc văn hoá dân tộc, hỗ trợ cho bảo tồn và phát triển đa dạng tài nguyên di truyền thực vật phục vụ cho mục tiêu nông nghiệp và lương thực.

 Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Hương Giang, (2006). Kiến thức bản địa. Thiennhien.net.

2.  Nguyễn Thị Ngọc Huệ, Lưu Ngọc Trình, (2008). Ý nghĩa và nội dung việc tư liệu hoá tri thức, kinh nghiệm truyền thống, bản địa trong bảo tồn đa dạng sinh học nông lâm nghiệp. Bài giảng môn học tài nguyên di truyền thực vật. NXB. Nông nghiệp.

3. Nguyễn Văn Huy, Lê Duy Đại, Nguyễn Quý Thảo, Vũ Xuân Thảo, (2009). Đại gia đình các dân tộc Việt Nam. NXB Giáo dục. 

4. Cầm Thị Tú Lan và Cs,( 2004). Tri thức bản địa của phụ nữ Thái Tây Bắc trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên.

5. Nguyễn Thị Phương Thảo, Hà Anh Tuấn, Lý Xuân Trung, (2008). Kinh nghiệm và tri thức sử dụng cây nhuộm màu của các dân tộc thiểu số tại huyện Mường Khương, Lào Cai. Tri thức truyền thống trong bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, UNDP GEF SGP-TKN.

 

Bình luận

 

    Chưa có bình luận!

Góp ý

 
  • Mã xác nhận

    6384

    Nhập lại mã xác nhận